Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2011

Đều Hành tour.

Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành có thể hiểu là việc xây dựng, tiếp thị, quảng bá, bán và thực hiện các chương trình du lịch (đã bán) mà trong nghề thường gọi là các tour. Nói cách khác, làm du lịch là tổ chức các dịch vụ phục vụ những nhu cầu du lịch của khách như: đi lại, ăn ở, vui chơi, nghỉ ngơi, thăm viếng, tham quan, khám phá, thử thách v.v... Ngoài ra, trong ngành này còn có nhiều công việc đa dạng như chăm sóc khách hàng, thông tin du lịch, xây dựng chương trình du lịch, bán hàng lưu niệm, chăm sóc sức khỏe, tổ chức vui chơi giải trí, giáo dục môi trường du lịch, bảo trì, nghiên cứu về du lịch, giảng dạy trong các cơ sở đào tạo du lịch v.v...
  Vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế

Du lịch là ngày càng có vai trò quan trọng tại Việt Nam. Các dự án đầu tư vào bất động sản du lịch dọc theo bờ biển hơn 3.000 km và tại và các thành phố lớn đang gia tăng nhanh chóng. Dịch vụ du lịch ngày càng đa dạng. Công ty lữ hành địa phương và quốc tế cung cấp các tour du lịch tham quan các bản làng dân tộc thiểu số, đi bộ và tour du lịch xe đạp, đi thuyền kayak và du lịch ra nước ngoài cho du khách Việt Nam, đặc biệt là gắn kết với các quốc gia láng giềng Campuchia, Lào và Thái Lan...là nét Văn hóa du lich.

Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ. Trong khi đó, du lịch đóng góp 4,5% trong tổng sản phẩm quốc nội (thời điểm 2007). Ngày càng có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào ngành du lịch. Sau các ngành công nghiệp nặng và phát triển đô thị, đầu tư nước ngoài hầu hết đã được tập trung vào du lịch, đặc biệt là trong các dự án khách sạn.

Tương lai trong hệ thống ngành nghề

Ở nhiều nước trên thế giới, ngành du lịch đã có lịch sử hàng trăm năm. Song ở Việt Nam, đây còn là lĩnh vực mới mẻ, đầy tiềm năng và đang phát triển rất mạnh. Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Nước ta đang chú trọng phát triển và mở rộng kinh tế du lịch, coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Với Việt Nam, việc làm du lịch là một ngành còn khá mới mẻ và đang thiếu nhân lực nên bạn sẽ có nhiều cơ hội nghề nghiệp hơn một số ngành nghề khác. Tức là, cơ hội việc làm du lịch mang lại rất lớn với thu nhập tương đối cao và ổn định.


Ngoài ra, tiềm năng du lịch của Việt Nam rất lớn. Hầu như địa phương, tỉnh thành nào cũng có vài ba địa điểm du lịch nổi bật. Tính đến tháng 8/2010, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 5000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, có 6 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới, có 30 vườn quốc gia, 400 nguồn nước nóng từ 40-150 độ.
  Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp. Việt Nam là 1/12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang. Việt Nam có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương quản lý 79.

Hai bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và Bảo tàng lịch sử Việt Nam hiện đang đề xuất thêm Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Ngoài ra, Việt Nam hiện có 21 khu du lịch quốc gia là những trọng điểm để đầu tư thúc đẩy phát triển du lịch.
  Phẩm chất và kỹ năng cần thiết của người làm nghề du lịch:
- Có duyên nghề: tác phong linh hoạt, tươi tắn, thân thiện, thái độ giúp đỡ, quan tâm, kiến thức vững vàng, ứng xử thông minh, khéo léo. 
- Nhạy cảm, tâm lý, quan tâm đến mọi người, biết lắng nghe 
- Lợi ngôn, khả năng giao tiếp tốt, truyền đạt hiệu quả
- Óc tổ chức tốt, chủ động và độc lập 
- Giao tiếp ngoại ngữ thành thạo 
Người quản lý và điều hành du lịch thường làm việc tại văn phòng, bên chiếc máy vi tính và điện thoại, kết nối các mối quan hệ, lên mô hình và điều phối nhân viên dưới quyền sao cho đảm bảo phục vụ các tour du lịch tốt nhất cho khách hàng.  

Người làm du lịch có thể công tác tại các công ty du lịch lớn nhỏ, trung tâm lữ hành, khách sạn hay các cơ sở dịch vụ du lịch có bộ phận bán và thực hiện các chương trình du lịch. Họ còn có mặt trong các đơn vị quản lý, khai thác tài nguyên du lịch với tư cách là hướng dẫn viên du lịch địa phương, hướng dẫn viên du lịch tại điểm. Đó là chưa kể nhân viên văn phòng đại diện của công ty du lịch hoặc hướng dẫn viên thường xuyên đưa khách đi du lịch nước ngoài, đến những châu lục, quốc gia xa tít tắp..

Ngoài ra, còn có những người làm việc ở các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch như Tổng cục Du lịch, các Sở Du lịch, Sở Du lịch Thương mại hay Sở Thương mại Du lịch các tỉnh. Một số người công tác trong các cơ sở nghiên cứu, thông tin, xúc tiến du lịch. Có những người sau khi học tập rèn luyện tốt được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ sở đào tạo về du lịch.


Cơ hội việc làm và triển vọng
   
Làm du lịch, bạn sẽ có cơ hội đi nhiều nơi, có điều kiện được học hỏi, tìm hiểu và khám phá nhiều điều mới lạ. Bạn cũng sẽ được thưởng thức đặc sản của rất nhiều vùng miền. Được ngao du thiên hạ, mở rộng không gian văn hoá, theo thời gian, bạn sẽ có kinh nghiệm và vốn sống vô cùng phong phú. Bạn sẽ là một sứ giả thiện chí, giới thiệu với khách du lịch về đất nước Việt Nam tươi đẹp, thân thiện và hiếu khách. Nếu bạn thích thú với việc tìm hiểu, khám phá cuộc sống, nghề du lịch sẽ mở ra trước mắt bạn cả một thế giới rộng mở, để bạn thường xuyên tiếp cận, trau dồi và cập nhật thông tin.

Tìm việc làm du lịch, bạn sẽ được làm quen và kết bạn với những con người từ nhiều vùng đất, với nhiều quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, có cá tính và sở thích khác nhau. Tìm hiểu, khám phá một con người cũng chính là khám phá một tiểu văn hoá mới. Qua đó, mỗi con người có thể xích lại gần nhau, học hỏi lẫn nhau. Nghề du lịch có khả năng làm trẻ hoá tâm hồn chính nhờ sự luôn mới mẻ ấy. Nói cách khác, du lịch là nghề nghiệp tạo nên sự hài hoà cho các mối quan hệ của con người.

Không chỉ nâng cao khả năng giao tiếp, nghề nghiệp này còn giúp bạn rèn luyện nhiều kỹ năng khác trong cuộc sống và công việc. Đó là sự linh hoạt, năng động, nhanh nhẹn trong mọi tình huống. Đó là sự điềm tĩnh, chắc chắn và cẩn thận. Với nghề này, bạn sẽ tự tin hơn, có khả năng tổ chức, giải quyết công việc mau chóng và hiệu quả hơn. Du lịch còn là nghề nghiệp dạy cho ta biết cách “chịu đựng” để dễ dàng thích nghi với cuộc sống. Nghề nào cũng cần sự bồi dưỡng bản thân, nhưng để có thể thành công trong nghề du lịch, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và quan trọng.

Ngành lữ Hành.


Việt Nam được xếp thứ 89/133 về Chỉ số năng lực cạnh tranh ngành lữ hành và du lịch (TTCI) trong Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh ngành lữ hành và du lịch (TTCR) năm 2009, do Diễn đàn kinh tế  thế giới (WEF) công bố. Với mục tiêu "đánh giá các yếu tố và chính sách nhằm khuyến khích phát triển ngành lữ hành và du lịch ở các nước khác nhau", TTCI được tính dựa trên 3 nhóm chỉ số với các biến số tạo thuận lợi hoặc chi phối năng lực cạnh tranh.
Nhóm các chỉ số về khung pháp lý, gồm các thành phần: luật và các quy định chính sách; tính ổn định của môi trường; an toàn và an ninh; y tế và vệ sinh; Ưu tiên hóa ngành lữ hành và du lịch.
Nhóm chỉ số về hạ tầng cơ sở và môi trường kinh doanh, gồm: hạ tầng giao thông đường hàng không, đường bộ, công nghệ thông tin và truyền thông, cơ sở hạ tầng ngành du lịch, cạnh tranh về giá trong ngành. Nhóm chỉ số về nguồn lực con người, văn hóa, tài nguyên thiên nhiên...

Chỉ số TTCI của Việt Nam đạt 3,70 so với 5,68 của nước đầu bảng là Thụy Sĩ, và 2,52 của nước đứng cuối bảng xếp hạng là Chad. Riêng tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, có 25 quốc gia và nền kinh tế được xếp hạng.

Trong đó, Australia được xếp hạng cao nhất và Việt Nam ở vị trí 17/25. Trong số các nước ASEAN có mặt trong bảng xếp hạng, không có Lào và Mymamar, Việt Nam chỉ xếp trên Campuchia (ở vị trí 108/133).

So với bảng xếp hạng 2008, năm nay chỉ số TTCI của Việt Nam đã tăng lên 7 bậc. Tuy nhiên, xét kỹ các nhóm chỉ số chính và các chỉ số thành phần của TTCI, có thể thấy rõ hơn về vị thế của ngành lữ hành và du lịch Việt Nam.

Cụ thể, với nhóm chỉ số khung pháp lý, Việt Nam được xếp thứ 92/133 trong tất cả các quốc gia và nền kinh tế được xếp hạng, thứ 20/27 các nước châu Á - Thái Bình Dương. Với nhóm chỉ số về môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng, Việt Nam xếp thứ 85/113 và 16/27. Nhóm chỉ số về nguồn nhân lực, tài nguyên văn hóa và môi trường, Việt Nam đạt thứ hạng 76/113 và 17/27...

Cụ thể hơn nữa, Việt Nam có ưu thế nhất về mức độ cạnh tranh giá (đứng thứ 11/133). Đây cũng chính là chỉ số thành phần cao nhất mà Việt Nam đạt được. Phải chăng điều này đã mang lại cho du lịch Việt Nam sự hấp dẫn đặc biệt bởi giá cả sinh hoạt, dịch vụ thấp...

Những chỉ số thành phần khác đóng góp vào thế mạnh cạnh tranh giá là vé và lệ phí sân bay (20/133), giá nhiên liệu (23/133), khách sạn (31/133).

Về nguồn nhân lực TTCI đánh giá Việt Nam ở mức trung bình kém (thứ hạng 82/133), nhưng lại có khả năng đáp ứng lao động có chất lượng cao đạt mức khá (thứ 40)... Về tài nguyên thiên nhiên, TTCI xác nhận Việt Nam có tiềm năng về số lượng di sản thế giới (đứng thứ 23), và tổng số loài sinh vật được biết thứ 21)...

TTCI cũng cho thấy nhiều chỉ số cụ thể khác. Ví như luật và các quy định chính sách còn yếu kém (đứng thứ 96/133), thể hiện qua các yêu cầu cao về thị thực nhập cảnh (thứ 116), thời hạn khởi sự doanh nghiệp lớn (thứ 112) và những hạn chế với những sở hữu nước ngoài (104).

Bên cạnh đó là tính bền vững của môi trường bị đánh giá kém (thứ 100) với tính khắt khe của các quy định môi trường (thứ 106), việc thực thi các quy định môi trường (93) và mối đe dọa các loài sinh vật (110).

An toàn và an ninh cũng bị đánh giá kém (xếp thứ 100), nhất là về các tai nạn giao thông đường bộ ở mức quá cao (116). Các tiêu chí khác về hạ tầng giao thông và hạ tầng du lịch đều có thứ hạng rất thấp. Chất lượng đường sá (thứ 102). Chất lượng cơ sở hạ tầng hàng không (thứ 84), mạng vận tải hàng không quốc tế (thứ 91). Hạ tầng du lịch chưa được đầu tư thích đáng (thứ 109), với số phòng khách sạn đạt mức trung bình kém (thứ 85) và việc sử dụng các loại thẻ thanh toán ATM rất kém (thứ 103)...

Quản Trị Doanh Nghiệp


Từ thực tế yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp dược phẩm, nhất là các doanh nghiệp sản xuất ngành dược bắt buộc phải đạt các tiêu chuẩn quốc tế, tác giả đã cho ra đời phần mềm quản trị doanh nghiệp ngành dược (PharMaSoft)


Tác giả Đoàn Huấn hiện làm việc tại Cty TNHH Tin Học Mỹ Đoàn, TPHCM. Sản phẩm đã ứng dụng rộng rãi trong thực tế, được triển khai phát triển trong thời gian khá dài, từ 2001 đến 2006.


PharMaSoft là phần mềm quản lý tổng thể doanh nghiệp ngành dược theo mô hình ERP, từ sản xuất, kế hoạch, kho, kinh doanh, giá thành, kế toán… So với các sản phẩm khác, đây là sản phẩm chuyên về ngành dược nên nó quản lý rất tốt các yêu cầu đặt ra đối với ngành này như quản lý về số lô, hạn dùng, hàm lượng, độ ẩm, đơn vị UI, số phiếu kiểm nghiệm… của nguyên liệu, thành phẩm. Phần mềm cho phép cài các công thức sản xuất dược phẩm và khi cần sản xuất một lô hàng nào đó nó tự tính lại công thức này theo hàm lượng, độ ẩm hay đơn vị UI của nguyên liệu hiện có trong kho, cho phép cài các chương trình khuyến mãi và tự động khuyến mãi khi xuất hoá đơn. Khi xuất hoá đơn bán hàng hay xuất nguyên liệu sản xuất phần mềm cũng tham chiếu ngay đến tồn kho của từng lô hàng để cho xuất hay không.


Không chỉ theo dõi công nợ khách hàng, phần mềm này còn theo dõi công nợ trình dược viên bán cho các khách hàng đó, tự động phân bổ số tiền khách trả cho các hoá đơn còn nợ lâu nhất, nếu trả thừa tự động ghi nhận lại để phân bổ cho các hoá đơn mua sau này… Đây là sản phẩm tự phát triển mới theo nhu cầu của thị trường.
Hiện đã có hai doanh nghiệp sản xuất dược phẩm lớn đạt các tiêu chuẩn GMP, GLP, GSP (GMP: Thực hành tốt sản xuất thuốc, GLP: Thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc, GSP : Thực hành tốt bảo quản thuốc) tại TPHCM đưa vào sử dụng là công ty cổ phần dược phẩm PHARMEDIC và Công ty cổ phần dược phẩm 2/9 (NADYPHAR).


Theo tác giả, việc sản xuất dựợc phẩm đòi hỏi qui trình và công thức chính xác cao, chỉ cần một sai sót nhỏ cũng có thể gây ra hậu qủa lớn về tính mạng con người (thuốc kém chất lượng) hoặc thiệt hại kinh tế lớn (nếu phải huỷ bỏ khi không đạt tiêu chuẩn). Việc sử dụng phần mềm đã giúp cho các doanh nghiệp này có được công cụ quản lý hiệu quả, chính xác và nhanh chóng góp phần đưa ngành công nghiệp dược Việt Nam hội nhập với các tiêu chuẩn quốc tế cũng là hội nhập quốc tế.

Học và làm gì ở nhóm ngành Luật?


Học Luật ra trường không phải chỉ làm việc trong các cơ quan nhà nước mà có thể làm việc ở rất nhiều ngành nghề và đơn vị khác nhau. Nhiều bạn nghĩ học Luật chỉ ra làm luật sư là không đúng. 

Không phải học Luật ra là làm tòa án, viện kiểm sát mà chúng ta có thể công tác trong ngành công an. Hiện nay rất nhiều cựu sinh viên luật đang công tác ở các vị trí quan trọng trong ngành công an. Nếu không thích làm việc trong các cơ quan nhà nước, sinh viên luật cũng có thể làm việc trong các doanh nghiệp, làm tư vấn luật, làm nhà báo... Nhu cầu về ngành luật hiện nay là rất lớn. Khi trúng tuyển vào ĐH luật thí sinh có thể lựa chọn những ngành học phù hợp: Luật thương mại, Luật dân sự, Luật quốc tế, Luật hình sự…